dương lịch, hôm nay

 âm lịch, hôm nay

Tử vi, bát tự, bản đồ sao và thần số học từ một ngày sinh, ghi rõ từng quy tắc đã dùng.

Một ngày sinh,hai cuốn lịch

Lập lá số

Ngày sinh là đủ cho âm lịch, can chi, con giáp và thần số học. Giờ và nơi sinh cần cho tử vi, bát tự và cung mọc. Kết quả ghi quy tắc đã dùng và chỗ các trang khác có thể tính khác.

Gõ 8 số, ví dụ 15081990. Dấu / tự thêm.

Chỉ biết ngày âm lịch?

Trang cần ngày dương lịch. Nếu giấy tờ ghi ngày âm, hãy đổi ở trang Đổi lịch rồi quay lại. Người sinh ở nước ngoài nhập ngày theo lịch ở nơi sinh.

Gõ 4 số theo đồng hồ 24 giờ, ví dụ 0930 hay 1430.

Không chắc giờ sinh?

Để trống thì âm lịch, can chi, con giáp, mệnh và thần số học vẫn đủ. Tử vi, cung mọc và trụ giờ của bát tự cần giờ sinh.

Mỗi giờ âm lịch dài 2 tiếng, nên giờ gần đúng vẫn cho cùng lá số tử vi nếu không sát đầu hay cuối giờ. Nhập giờ đồng hồ ở nơi sinh. Trang tự tính các lần Việt Nam đổi múi giờ.

Nơi bạn được sinh ra, không phải nơi đang sống.

Không có trong danh sách?

Chọn tỉnh hay thành phố gần nhất. Danh sách dùng tên tỉnh trước khi sáp nhập tháng 7/2025, như trên giấy khai sinh. Mục cuối, Nơi khác, cho nhập tọa độ.

Nơi sinh quyết định múi giờ, giờ mặt trời và cung mọc. Lệch vài chục cây số gần như không đổi kết quả.

Bắc là số dương, ví dụ Hà Nội 21.028.

Đông là số dương, ví dụ Hà Nội 105.854.

Tên múi giờ quốc tế, ví dụ Asia/Ho_Chi_Minh hay America/Los_Angeles.

Lấy tọa độ ở đâu?

Trên Google Maps, nhấn giữ một điểm ở nơi sinh. Hai số hiện ra là vĩ độ và kinh độ. Gõ vài chữ của tên thành phố vào ô múi giờ để chọn trong danh sách.

Họ và tên đầy đủ như trên giấy khai sinh. Không bắt buộc, và chỉ dùng trong trình duyệt này.

Tên nào, thứ tự nào?

Gõ cả họ, tên đệm và tên, ví dụ Nguyễn Thị Minh Anh. Thứ tự không làm đổi kết quả, vì các con số cộng từ mọi chữ cái trong tên. Có dấu hay không dấu cũng vậy, vì trang bỏ dấu trước khi tính.

Thần số học thường dùng tên khai sinh, không dùng tên gọi ở nhà hay tên đã đổi sau này.

Giới tính khi sinh.

Vì sao cần?

Tử vi và bát tự dùng giới tính cùng âm dương của năm sinh để biết đại hạn, đại vận đi thuận hay nghịch. Không chọn thì lá số tử vi thiếu đại hạn, tiểu hạn, vòng Tràng Sinh, vòng Bác Sĩ, Hỏa Tinh và Linh Tinh, còn bát tự thiếu đại vận.

Không chắc thì giữ Placidus.

Hệ nhà là gì?

Bản đồ sao chia bầu trời lúc sinh thành 12 nhà. Mỗi hệ chia theo một cách, nên một hành tinh có thể rơi vào nhà khác. Placidus là hệ phổ biến nhất ở các trang chiêm tinh. Hệ nhà cần giờ sinh.

Cách tính tử vi và bát tự

Mặc định là cách phổ biến ở Việt Nam. Chỉ đổi khi bạn theo một trường phái hay một cuốn sách cụ thể. Phần kết quả ghi lại mọi lựa chọn đã dùng.

Cách tính số chủ đạo (thần số học)
Hai cách khác nhau thế nào?

Với ngày 15/08/1990, cộng tất cả chữ số là 1+5+0+8+1+9+9+0 = 33. Rút gọn trước thì ngày 15 thành 6, tháng 8 giữ nguyên, năm 1990 thành 1, rồi 6+8+1 = 15 thành 6.

Nhiều ngày sinh cho cùng một số theo cả hai cách, nhưng không phải mọi ngày. Phần kết quả ghi từng bước tính.

Văn bản chữ Hán in dọc, ghi ngày theo niên hiệu Bảo Đại và ngày dương lịch
Lịch Việt Nam tính trăng mới theo giờ UTC+7, lịch Trung Quốc theo UTC+8. Vì vậy Tết năm 1985 ở Việt Nam là 21/01, ở Trung Quốc là 20/02.Văn bản thời Bảo Đại ghi ngày theo niên hiệu và tháng âm lịch, bên cạnh ngày dương lịch
Bản rập bản đồ sao khắc đá Tô Châu, các chòm sao xếp quanh sao Bắc Cực
Tử Vi là tên chòm sao quanh sao Bắc Cực. Lá số đặt 14 chính tinh và các phụ tinh vào 12 cung, theo năm, tháng, ngày và giờ sinh âm lịch.Bản đồ sao khắc đá Tô Châu, khắc khoảng năm 1247. Chòm Tử Vi nằm quanh sao Bắc Cực ở giữa
Gáy những cuốn lịch Thông thư chữ đỏ xếp cạnh nhau
Năm Bát tự đổi vào đúng lúc Lập xuân, không phải ngày Tết. Năm 2026, Lập xuân rơi vào 03:02 sáng ngày 4/2, giờ Việt Nam.Thông thư, cuốn lịch ghi can chi và tiết khí của từng ngày
Lá số chiêm tinh vuông kiểu Anh, viết tay, các nhà xếp quanh một ô giữa
Trên 53 lá số thử, Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh lệch dưới 1 phút cung so với Swiss Ephemeris. Cung mọc cần giờ sinh đúng đến từng phút.Lá số chiêm tinh của Eleanor Gwyn, in năm 1852. Lá số kiểu Anh xưa cũng vuông, các nhà xếp quanh ô giữa
Kính màu vẽ nữ thần Số học cầm bảng số, Pythagoras ngồi cạnh
Có hai cách cộng ra số chủ đạo, và hai cách có thể cho hai số khác nhau. Trang để bạn chọn, rồi ghi cách đã dùng.Số học và Pythagoras, kính màu thế kỷ 18 đến 19

Năm cách xem

Từng bước tính

Mọi phần của lá số đi qua cùng năm bước. Mỗi bước có quy tắc riêng, và đó cũng là chỗ các trang hay tính khác nhau. Trang Cách tính ghi đủ từng quy tắc và nguồn của nó.

Giờ nơi sinh

Từ năm 1906 đến 1975, giờ đồng hồ ở miền Nam đổi chín lần. Từ 1960 đến 1975, Hà Nội dùng UTC+7 còn Sài Gòn dùng UTC+8. Trang đổi giờ sinh ra giờ quốc tế theo bảng múi giờ của từng miền, còn trước năm 1906 thì theo giờ mặt trời ở kinh độ nơi sinh.

Bưu thiếp Hà Nội: tàu điện chạy qua vườn hoa cạnh hồ
Hà Nội, bưu thiếp gửi năm 1906
Ngày âm lịch

Tháng âm bắt đầu vào ngày có trăng mới, tính theo giờ UTC+7. Trang tính trăng mới bằng mô hình thiên văn, rồi so với bảng của JPL ở những lần trăng mới rơi sát nửa đêm, vì chỉ lệch vài phút là đổi cả ngày.

Hình vẽ tay các tuần trăng quanh Trái Đất, chữ Ba Tư bên dưới
Các tuần trăng, theo sách của al-Biruni, bản chép thế kỷ 18
Tiết khí, can chi

Hai mươi bốn tiết khí đi theo vị trí Mặt Trời. Tháng của Bát tự đổi vào đúng phút bắt đầu mỗi tiết. Can chi của ngày đếm liên tục theo vòng 60 ngày, không phụ thuộc tháng.

Bản đồ thiên văn màu: các quỹ đạo quanh Trái Đất và vòng mười hai cung hoàng đạo
Hệ Tycho Brahe trong atlas của Andreas Cellarius, năm 1661
Sao và cung

Tử vi đặt sao theo ngày, tháng, năm và giờ sinh âm lịch, nên sinh khác giờ là khác lá số. Bản đồ sao đặt hành tinh theo vị trí thật lúc sinh, nhìn từ tâm Trái Đất, còn cung mọc và các nhà tính theo nơi sinh.

Sao xoay quanh sao Bắc Cực trong một đêm.
Lời giải

Mỗi lời giải gắn với một yếu tố trong lá số và ghi truyền thống mà nó dựa vào. Các bản hiện tại là bản nháp do AI soạn, chưa có thầy nào duyệt. Trang không đoán bệnh tật, tai nạn hay chuyện hôn nhân tan vỡ.

Hỏi và đáp

Vì sao trang khác tính ra khác?

Phần lớn khác biệt đến từ quy tắc, không phải lỗi tính. Sinh lúc 23 giờ, sinh trong tháng nhuận, sinh sát ngày giao tiết, hay đổi năm vào Tết thay vì Lập xuân, mỗi trường hợp có nhiều cách tính. Trang ghi quy tắc đã dùng ở từng kết quả và cho bạn đổi các quy tắc đó.

Không biết giờ sinh thì sao?

Âm lịch, can chi, con giáp, mệnh và thần số học vẫn tính đủ. Tử vi và cung mọc cần giờ sinh, nên trang không vẽ hai phần đó. Bát tự còn ba trụ và được ghi là tạm tính.

Ngày sinh có bị gửi đi đâu không?

Không. Mọi phép tính chạy trong trình duyệt của bạn. Trang không có tài khoản, không lưu và không gửi ngày sinh, tên hay nơi sinh. Liên kết chia sẻ chứa ngày sinh sau dấu #, phần mà trình duyệt không gửi lên máy chủ.

Âm lịch ở đây khác lịch Trung Quốc chỗ nào?

Cùng quy tắc thiên văn, khác kinh tuyến. Việt Nam tính theo 105° Đông, Trung Quốc theo 120° Đông. Có năm hai lịch lệch một ngày đầu tháng, có năm lệch cả tháng nhuận. Trang Đổi lịch cho thấy cả hai.

Lời giải có đáng tin không?

Lời giải mô tả cách một truyền thống nói về một yếu tố trong lá số. Chưa có nghiên cứu có đối chứng nào cho thấy chúng đúng với một người cụ thể hơn là đoán ngẫu nhiên. Hãy đọc như đọc một bản đồ của truyền thống, không phải lời phán.